Trường hợp đơn phương chấm dứt hợp đồng được hưởng trợ cấp thất nghiệp

Một trong những quyền cơ bản của người lao động khi tham gia làm việc đó là được đơn phương chấm dứt hợp đồng. Khi quyết định chấm dứt hợp đồng lao động, các bên đều có một số quy định cụ thể về quyền lợi cũng như nghĩa vụ phải tuân theo luật bảo hiểm xã hội Việt Nam. Trong một số trường hợp đặc biệt, người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động vẫn được hưởng trợ cấp thất nghiệp. Cụ thể những trường hợp đó là gì? Mời quý bạn đọc theo dõi bài viết sau đây.

1. Khi nào người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng?

Căn cứ theo Khoản 1 Điều 37 Bộ luật Lao động người lao động làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn, hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trước thời hạn trong 07 trường hợp sau đây:

– Người lao động không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

– Lương trả cho người lao động không đầy đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

– Xảy ra tình trạng bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

– Bản thân người lao động hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn dẫn đến không tiếp tục thực hiện được hợp đồng lao động;

– Được bầu làm nhiệm vụ chuyên trách ở cơ quan dân cử hoặc được bổ nhiệm giữ chức vụ trong bộ máy nhà nước;

– Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền;

– Người lao động bị bệnh, tai nạn và điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn quy định trong hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng khi khả năng lao động chưa được hồi phục.

2. Thời hạn báo trước cho người sử dụng lao động

Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng theo những trường hợp được nêu trên, người lao động phải báo cho người sử dụng lao động biết trước một khoảng thời gian.

Cụ thể, căn cứ theo khoản 2 Điều 37 Bộ luật Lao động 2012, người lao động phải báo trước cho người sử dụng lao động ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn; ít nhất 45 ngày nếu là hợp đồng lao động không xác định thời hạn, trừ trường hợp người lao động mang thai.

Ngoài ra, một số trường hợp người lao động chỉ phải báo trước ít nhất 3 ngày bao gồm:

– Công việc được bố trí không phù hợp, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

– Mức lương được trả không đủ hoặc trả lương không đúng thời hạn đã thỏa thuận trong hợp đồng lao động;

– Người lao động bị ngược đãi, quấy rối tình dục, cưỡng bức lao động;

Hướng dẫn thay đổi thông tin đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử 

Khi nào doanh nghiệp cần hủy hóa đơn điện tử đã phát hành?

– Người lao động bị bệnh nặng, tai nạn đã điều trị 90 ngày liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn và một phần tư thời hạn hợp đồng đối với người làm việc theo hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn không đến 12 tháng mà khả năng lao động chưa được hồi phục.

Như vậy, người lao động có đủ điều kiện đơn phương chấm dứt hợp đồng, đã báo trước cho người sử dụng lao động thì được coi là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đúng quy định. Người lao động chấm dứt hợp đồng lao động đúng quy định sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp căn cứ tại Điều 49 Luật việc làm năm 2013.

 

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *